Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Vì kỳ lạ sao dạy nghề rơi vào tình trạng “cung” không gặp “cầu”?.

Có một nghịch lý là trong nhiều năm qua, chúng ta đẩy nhanh tiến độ phổ cập THCS, trong khi chủ trương phân luồng cho học sinh tốt nghiệp THCS lại chưa thực hành được.

226 học trò tốt nghiệp THPT, trong đó có 576. 000 học sinh đã đỗ ĐH, CĐ, đạt tỷ lệ 61,26%). Cần phải có những chủ trương, chính sách đủ sức quyến rũ để người học tích cực và yên tâm học nghề.

Theo đánh giá của Tổng cục Dạy nghề, không chỉ do công tác phân luồng kém, mà vấn đề dạy nghề giờ chưa gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành và địa phương. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển dạy nghề, phát triển quy mô, quy hoạch màng lưới và phát triển hàng ngũ tía, tổ chức đào tạo nghề.

Nhưng kể từ niên học 2005 – 2006, chủ trương không tổ chức thi tốt nghiệp THCS, khiến hầu hết học trò sau khi học THCS đều vào học THPT. Thiển nghĩ, thực trạng về công tác dạy nghề đòi hỏi phải sớm có một loạt giải pháp để thay đổi chất lượng đào tạo nghề, kết thúc tình trạng đào tạo cái chúng ta có chứ không phải là đào tạo cái doanh nghiệp, Nhà nước cần.

Nói cách khác, công tác tham vấn hướng nghiệp cho thanh, thiếu niên chọn nghề còn yếu kém, tâm lý chạy theo bằng cấp còn nặng nề. Thêm nữa, mạng lưới cơ sở dạy nghề tuy đã phát triển, nhưng đẵn giao hội ở đô thị.

Hơn nữa, sau 3 niên học THPT, tỷ lệ tốt nghiệp cũng rất cao và có xu hướng tăng lên.

Nhiều học sinh, sinh viên hạn chế về khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống, chưa thích nghi với những biến đổi chóng vánh của công nghệ và thị trường cần lao.

Một giải pháp quan yếu nữa là phải có chính sách cơ chế để gắn cơ sở đào tạo nghề, với các cơ sở sử dụng lao động; song song phải có những chính sách đủ mạnh để tạo cả “lực đẩy” và “lực hút” cho phân luồng học sinh sau THCS. Cơ cấu trình độ đào tạo chưa hạp với nhu cầu trình độ nhân lực của từng ngành, từng địa phương, trên cơ sở nhu cầu thực tế của ngành, địa phương.

Phần lớn các cơ sở dạy nghề đốn hội tụ đào tạo những nghề phổ quát, trong khi đó có những nghề thị trường lao động có nhu cầu, nhưng chưa được đào tạo, hoặc đào tạo rất hạn chế.

Mặt khác, một số ngành nghề kém hấp dẫn khó tìm việc, hoặc thu nhập thấp, không cuốn được người học vào trường dạy nghề, hoặc trung tâm dạy nghề. Cách đây hơn 10 năm, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT của cả nước niên học 2001 – 2002 là 89,84% thì đến niên học 2012 – 2013, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp của cả nước đạt 97,5%; trong đó có những địa phương đỗ rất cao như Nam Định, Hậu Giang.

Ví như, hiện mức tổn phí hỗ trợ người dân học nghề là quá thấp, thì cần phải tăng mức phí hỗ trợ đó lên.

Cũng rất cần một công tác dự báo nhu cầu nghề trong tương lai, trong đó phải quy hoạch được nhuồn nhân công làm sao bảo đảm cung ứng tốt nguồn lao động cho các ngành, các khu vực kinh tế, địa phương. Trước tiên cần phải có nhận thức đúng đắn về chức năng, vị trí và vai trò của công tác dạy nghề nói riêng và giáo dục nghề nói chung.

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT cao là một trong những căn nguyên tạo ra công ép đối với các đợt thi tuyển vào ĐH, CĐ hằng năm (năm 2012, có 940. Theo một số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn trước, 2001 – 2005 tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS dù rằng có thiên hướng giảm, nhưng vẫn rất cao. Chính cho nên mà số học trò THPT năm sau đều cao hơn năm trước.

Khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu có số lượng cơ sở dạy nghề rất ít, quy mô dạy nghề nhỏ, thiếu trang thiết bị thực hành.